PHẦN I- NỘI DUNG ÔN TẬP

ÔN TẬP BÀI: PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG

                                              Trương Hán Siêu

Phần 1 : Kiến thức cơ bản về bài Phú sông Bạch Đằng- Trương Hán Siêu
Phần 2 : Tổng hợp các dạng đề thi về bài Phú sông Bạch Đằng- Trương Hán Siêu
1- VỀ TÁC GIẢ
– Trương Hán Siêu (? -1354), tự là Thăng Phủ, người làng Phúc Thành, huyện  Yên Ninh (nav thuộc thành phố Ninh Bình), vốn là người được Trần Hưng Đạo tin dùng.

– Ông tính tình cương trực, học vấn uyên thâm, nhân cách cao quý nên được các vua Trần tin cậy, nhân dân kính trọng. Thời Trần, ông giữ chức Hàn lâm học sĩ qua mấy triều. Năm 1351, ông được  thăng Tham tri chính sự. Khi mất, ông được vua ban tước hiệu và cho thờ ở Văn Miếu (Hà Nội).
– Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu là một trong nhiều tác phẩm thời đó viết về sông Bạch Đằng lịch sử – con sông gắn liền với tên tuổi Ngô Quyền năm 938 và đặc biệt là với “hai vị thánh quân” Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trong lần thứ ba đánh tan giặc Mông – Nguyên (năm 1288). Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu mang cảm hứng hào hùng và bi tráng. Đây là một tác phẩm đặc sắc của văn học trung đại Việt Nam.
Phú sông Bạch Đằng được viết theo thể cổ phú. Bản dịch đưa vào SGK giữ được nguyên điệu, chỉ hai bài ca kết bài được Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến và Bùi Văn Nguyên chuyển sang thể lục bát
MỘT SỐ KHÁI NIỆM CẦN LƯU Ý
Phú là một loại văn cổ của Trung Quốc, vào Việt Nam từ sớm nhưng được vận dụng trong sáng tác từ thời Trần. Phú có thể được viết bằng văn vần, hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi nhằm miêu tả phong cảnh, kể sư viêc  bàn chuyện đời,…
Có hai thể phú :

  • Phú cổ thể có  trước thời Đường, đặc trưng chủ yếu là mượn hình thức chủ – 1 khách đốì đáp để bày tỏ diễn đạt nội dung, câu có vần, không nhất thiết có đối 1 kết bằng thơ. Bố cục thường có bốn đoạn : mở, giải thích, bình luận, kết.
  • Phú cận thể (phú Đường luật) xuất hiện từ thời Đường, có vần, có đối, theo luật bằng trắc, bố cục thường có sáu đoạn.
  1. Tìm hiểu bố cục bài phú

Bài Phú sông Bạch Đằng gồm bốn đoạn :

  •  Đoạn 1 từ đầu đến ” luống còn lưu”: cảm xúc của “khách” trước cảnh sông Bạch Đằng.
  • Đoạn 2 (từ “Bên sông các bô lão” đến “nghìn xưa ca ngợi”) : Các bô lão kể lại các chiến tích trên sông Bạch Đằng.
  • Đoạn 3 (từ “Tuy nhiên : Từ có vũ trụ” đến “chừ lệ chan”) : Các bô lão bình luận về nguyên nhân chiến thắng trên sông Bạch Đằng.
  • Đoạn 4 (đoạn còn lại) : Tác giả khẳng định, đề cao vai trò, đức độ của con người Đại Việt.

Bố cục của bài Phú sông Bạch Đằng mang đặc điểm tiêu biểu của bài phú cổ thể như đã nói ở trên. Hệ thống cấu tứ theo lối kể chuyện khách quan : tác giả để nhân vật “khách” đứng ra kẽ về những điều mình quan sát và suy nghĩ; hết lời kể thì “bô lão” ở địa phương kể cho “khách” nghe về chiến công thuở trước, sau đó là cất lời ca và “khách” cũng ca nối tiếp.

  1. Nhân vât “khách”

“Khách” được giới thiệu tập trung ở đoạn 1 của bài phú. Hiện lên qua hàng loạt hình ảnh, hoạt động trải rộng về không gian, liên hoàn về thời gian (“giương buồm”, “lướt bể”, “sớm gõ thuyền”, “chiều lần thăm”,…) là một con người có tâm hồn phóng khoáng, tự do :
Nơi có người đi, đấu mà chẳng biết.
Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều,
Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết
Đó cũng là một người thích ngao du sơn thuỷ, muốn đêh nhiều nơi, muôn đi nhiều chỗ không chỉ để thưởng ngoạn vẻ đẹp của non sông gấm vóc mà còn đê tìm hiểu lịch sử của dân tộc. Những nơi đêh và điểm dừng của “khách” được nhắc tới chỉ có tính khái quát, ước lệ ngụ ý nói rằng nhân vật “khách” học Tử Trường — Tư Mã Thiên thú tiêu dao, đến sông Bạch Đằng để nghiên cứu lịch sử dân tộc.
Nhiều người bảo “khách” là “cái tôi” của Trương Hán Siêu, là sự phân thân của tác giả Phú sông Bạch Đằng. Có lẽ lúc viết bài phú này ông là trọng thần của nhà Trần, lúc vương triều đang có biểu hiện suy thoái ? Cho nên, khi có dịp du ngoạn Bạch Đằng — một di tích lịch sử lừng danh, nơi quân ta đã hai lần chiến thắng quân xâm lược phương Bắc, Trương Hán Siêu vừa tự hào, vừa hoài niệm nhớ tiếc anh hùng xưa. Nếu ở phần trên, cách miêu tả mang tính ước lệ, thì đến đây, tác giả đưa người đọc về cảnh thực với những cái tên cụ thể : cửa Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng,… Con thuyền chở “khách” càng tiến sâu vào con sông Bạch Đằng, hình ảnh con sông, qua tâm trạng “khách”, vừa vĩ đại hoành tráng vừa hiu hắt, vắng lặng :
Bát ngát sóng kình muôn dặm,
Thướt tha đuôi trĩ một màu.
Nước trờỉ: một sắc, phong cảnh: ba thu.
Với sự hồi tưỏng của một kẻ sĩ nặng lòng ưu hoài trước thắng cảnh thiên nhiên mang đầy chiến tích, quá khứ vệ vang nhưng đau thương gắn với con sông Bạch Đằng như lại hiện về đến từng chi tiết: “Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô”.
Sự chuyển đổi cấu trúc mạch văn ỏ cuối đoạn 1 có liên quan hay là để thể hiện tâm trạng nhân vật “khách” ? Có lẽ cả hai.
Buồn vì cảnh tiiảm, đứng lặng giờ lâu.
Thương nối anh hùng đâu vắng tá,
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu
Trước cảnh sông Bạch Đằng, một tâm hồn phóng khoáng, một tính cách mạnh như “khách” trở nên ưu tư, đầy ắp hoài niệm và sững sờ tiếc nuối. Với một hồn thơ trác việt như Trương Hán Siêu, nhân vật “khách” vốn khô khan và có tính công thức — theo đặc trưng thể phú, trở thành một tính cách sinh động bộn bề tâm trạng.

  1. Hình tương các “bô lão”
  2. a) Đoạn trên nhân vật “khách” kể về những điều mình quan sát, suy nghĩ khi ngược bến Đông Triều đến sông Bạch Đằng. Đến đây, “khách” gặp và được nghe các “bô lão” địa phương kể lại các chiến công của quân dân ta trên sông Bạch Đằng. Hình ảnh các “bô lão” ồ đoạn 2 xuât hiện một cách tự nhiên, tạo không khí đối đáp giữa vị “khách” với nhân dân ven sông Bạch Đằng cũng rất tự nhiên.
    Theo lời kể của các “bô lão”, hai chiến công vang dội thời Ngô Quyền (938) và thời Trần Hưng Đạo được gợi lên bằng lời lẽ trang trọng, những kì tích trên sông được liệt kê trùng điệp :
    Đây là nơi chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã,
    Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao
    Không khí chiến trận được miêu tả bằng hình ảnh đối nhau, miêu tả thế giằng co quyết liệt giữa quân ta và quân xâm lược :
    Thuyền bè muôn đội tinh kì phấp phới,
    Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói.
    Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,
    Bầu ứời đất chừ sắp đổi.
    Sự thất bại thảm hại của bọn xâm lược được tác giả (qua lời kể của các “bô lão”) diễn tả bằng những hình ảnh, điển tích gắn liền với một số sự kiện và nhân vật lịch sử Trung Quốc (trận Xích Bích, trận Hợp Phì, Lã Vọng, Hàn Tín,…) nhằm so sánh và đề cao tầm vóc của dân tộc và tài trí của các bậc quân vương đất Việt.
    Kết quả là, nhờ có chiến thắng năm 938 trên sông Bạch Đằng mà Ngô Quyền đưa nước ta thoát khỏi ngàn năm Bắc thuộc, bước vào thời kì độc lập. Và cũng trên dòng sông này (sau chiên công của Ngô Quyền mây trăm năm), nhà Trần đưa chế độ phong kiến nước ta phát triển hưng thịnh. Đoạn 2 có âm hưởng như một bài anh hùng ca.
    b) Các “bô lão” bình luận về nguyên nhân của các chiến công trên sông Bạch Đằng
    Các “bô lão” nêu lên ba yêu tô’ cơ bản làm nên chiên thắng, đặc biệt là ba lần đánh tan quân Mông – Nguyên:
    + Địa lợi: “Trời đất cho nơi hiểm trở”.
    + Nhân hoà: “Nhân tài giữ cuộc điện an”, tức là có nhiều người tài giỏi thuận lòng giúp nên giữ được nước, giữ được triều đại (như Lã Vọng giúp lập ra nhà Chu, Hàn Tín giúp lập nên nhà Hán), ơ đây ngầm chỉ vai trò quân sư của Thái sư Trần Quang Khải và vai trò thông lĩnh quân sự của Quốc công tiết chê Hưng Đạo Đại Vương Trần Quổíc Tuấn.
    +Thiên thời: “Bởi đại vương coi thế giặc nhàn”. Chi tiết này nhắc lại câu trả lời của Hưng Đạo Vương khi vua Trần Nhân Tông hỏi ông trước nguy cơ quân Mông  Nguyên lần thứ ba xâm lược nước ta. Thực tế lịch sử chứng minh đúng như vậy : quân ta càng đánh càng trưởng thành, binh hùng tướng mạnh; lần thứ ba lực lượng quân xâm lược yêu đi nhiều ; vì vậy, chỉ cần một trận quyết định đánh tan thuyền lương của giặc trên sông Bạch Đằng là đại thắng.
    .
    Kết thúc đoạn 3, tác giả viết :
    Đến bên sông chừ hổ mặt
    Nhớ người xưa chừ lệ chan.
    Theo cấu tứ của phú thì đây là lời của các “bô lão” nói với “khách”. Nhưng trước con sông lịch sử Bạch Đằng, dường như “chủ” (các “bô lão”) và “khách” có chung một niềm hoài cảm.
  3. Đoạn kết bàỉ phú

Niềm tự hào về những chiến công lịch sử hào hùng gắn liền với niềm tự hào về truyền thống nhân nghĩa của dân tộc. Đoạn kết bài Phú sông Bạch Đằng thể hiện rõ niềm tự hào về truyền thống đạo lí của dân tộc Việt Nam qua hai lời ca : lời ca của các “bô lão” và lời ca của “khách”.

  • Lời ca của các “bô lão” : Khẳng đinh quy luật tự nhiên, sự tồn tại vĩnh hằng của dòng sông Bạch Đằng với những chiên công hiên hách nơi đẫy, đồng thời khẳng định sự tồn tại vĩnh hằng của chân lí lịch sử : bất nghĩa (như Lưu Cung) thì tiêu vong, anh hùng (như Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo) thì lưu danh, “tiếng thơm còn mãi, bia miệng không mòn”.
  • Lời ca của “khách” tiếp nối lời ca của các “bô lão” ca ngợi sự anh minh của Thượng hoàng Trần Thánh Tông và nhà vua Trần Nhân Tông cũng như những chiến tích của con sông Bạch Đằng lịch sử. Đặc biệt hai câu kết, thể hiện quan niệm về yếu tô” quyết định trong công cuộc đánh giặc giữ nước : ta đánh thắng giặc không chỉ ở “đất hiểm” mà quan trọng là người cầm quân có “đức cao”.

Giặc tan muôn thuở thăng bình
Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao.
Đó là một quan niệm tiến bộ, có ý nghĩa nhân văn của tác giả.
(Tài liệu trong sách tham khảo, tác giả Nguyễn Kim Phong chủ biên, NXB GD)

CÁC DẠNG ĐỀ THI VỀ BÀI PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG -TRƯƠNG HÁN SIÊU
Dạng 1 : Cảm nhận, phân tích đoạn trích. Trong bài phú , đoạn nào cũng quan trọng, trong đó các em chú ý đoạn 3 và 4 nhiều hơn.
Dạng 2 : Nghị luận ý kiến bàn về tác phẩm : Đề bài trích dẫn 1 ý kiến, 1 nhận định yêu cầu học sinh chứng minh nhận định đó .
Dạng 3 : Cảm nhận về 1 khía cạnh thuộc nội dung hoặc nghệ thuật của văn bản , ví dụ : tư tưởng nhân văn, lòng yêu nước thể hiện như thế nào trong bài phú?
Dạng 4 : Văn thuyết minh : Đề bài yêu cầu viết bài văn thuyết minh về Trương Hán Siêu và bài Phú sông Bạch Đằng.
Dạng 5: Một số câu hỏi phụ,  liên hệ thực tế…

                               ——————————————————–

ÔN TẬP VĂN THUYẾT MINH

Phương pháp làm bài văn thuyết minh về món ăn

  1.  Lí thuyết về văn thuyết minh
    1. Nhận biết :
    Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong đời sống nhằm cung cấp tri thức về: đặc điểm, tính chất, nguyên nhân…của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội
    2. Các phương pháp thuyết minh:
    + Phương pháp nêu định nghĩa:
    +Phương pháp liệt kê:
    +Phương pháp nêu ví dụ:
    +Phương pháp dùng số liệu:
    +Phương pháp so sánh:
    + Phương pháp phân loại, phân tích:
    II. Các bước  làm bài văn thuyết minh về món ăn:
    – Bước 1:
    + Xác định đối tượng thuyết minh : đó là món ăn nào?
    + Sưu tầm, ghi chép và lựa chọn các tư liệu về món ăn
    – Nguồn gốc, ý nghĩa tên gọi món ăn, đặc sản.
    – Đặc điểm riêng của món ăn, đặc sản: dáng vẻ, màu sắc, hương vị.
    – Cách thức chế biến, thưởng thức.
    + Lựa chọn phương pháp thuyết minh phù hợp
    – Bước 2: Lập dàn ý
    – Bước 3: Viết bài văn thuyết minh
    III.Bài tập vận dụng
    Đề bài:

    Huế là xứ sở nổi tiếng về văn hoá ẩm thực, đặc biệt có món ăn rất ngon và bình dân ấy là cơm hến.Bằng vốn hiểu biết của mình ,anh (chị) hãy giới thiệu về món ăn đó?
    HƯỚNG DẪN
    1.Yêu cầu về kĩ năng.
    -Viết bài văn thuyết minh rõ ràng,chuẩn xác và hấp dẫn.
    -Phương phap:thuyết minh
    -phạm vi tư liệu:tìm hiểu bên ngoài đời sống + sách báo.
    2.Yêu cầu về nội dung.
    a)Xác định yêu cầu trọng tâm của đề:giới thiệu về món cơm hến-món ăn rất ngon và bình dân của xứ Huế
    Nói đến ẩm thực Huế thì không thể không nhắc đến cơm hến.Món cơm hến được xem như là món ăn thân quen của người dân làng chài xứ Huế…từ địa phương gọi là dân vạn đò.

b)Triển khai các luận điểm ,luận cứ: Cần triển khai theo những phương diện sau
-Nguồn gốc của cơm hến:Cồn Hến-Vĩ Dạ-tp Huế.
-Nguyên liệu và cách chế biến.
+Nguyên liệu:cơm+hến+các  gia vị khác
+Cách chế biến:
.Cơm: nấu chín tơi,không dẻo ,không dính ,không nát…
.Hến:nấu rời cái hến xong rồi xào hến.

– Rau ăn kèm gồm: xà lách, các loại rau thơm… lặt rửa sạch cắt sợi lớn, lỏi chuối non, bạc hà, khế chua ngọt… cắt sợi hoặc xắt lát mỏng.
– Gia vị và phụ gia: ớt bột xào với chút dầu phi tỏi, ớt tươi, tỏi tươi băm, muối mè rang, muối, đậu phụng để vỏ lụa chiên dòn, ruốc Huế pha loãng với ít nước sôi, gừng non cắt lát mỏng, da heo cắt sợi vừa chiên giòn hoặc tóp mỡ, khoai lang trắng luộc chín để nguội cắt nhỏ…
-Nghệ thuật thưởng thức.
+Trộn đều cơm và hến với các phụ gia khác.
+Phải ăn cay mới ngon.
+Đến làng Cồn ăn mới thú vị.
-Ý nghĩa và danh tiếng của món cơm hến: Món cơm hến được các bà, các mẹ gánh đi khắp nơi trong thành Huế bán rong. Còn ở cồn Hến thì khách ăn tại quán. Dù mang tiếng là đặc sản xứ Huế nhưng cơm hến thực sự là món ăn cho người nghèo bởi giá cả hết sức bình dân: 7000 đồng/tô.Món ăn bình dị mà chứa đựng bao kỳ công của những người chế biến. Có thể nó đây là nét ẩm thực truyền thống , là niềm tự hào của người dân xứ huế.
-Nêu cảm nghĩ về món ăn :Tôi không sinh ra và lớn lên ở Huế. Nhưng suốt hai năm qua, đó là quãng thời gian không dài nhưng đã làm cho tôi gắn bó với Huế quá đỗi. Tôi thích đạp xe một mình vào buổi chiều dưới những con đường đan dày vòm lá. Sau đó tạt vào một quán nhỏ thưởng thức một bát bánh canh hoăc một tô cơm hến, ăn xong miệng còn đọng lại dư vị nồng nồng, âm ấm. Tôi thích vào những ngày chủ nhật, khi những cơn mưa dư ba đổ về, cùng bạn bè làm những món ăn dân dã mà ấm cúng. Thật thiếu sót nếu chúng ta đến Huế mà chưa một lần đến thưởng thức món cơm hến Huế dân dã, nổi tiếng này…

                             —————————————————————-

PHẦN II- HƯỚNG DẪN CHUẨN BỊ BÀI MỚI

ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ – Nguyễn Trãi

Phần I- Tác giả

1- Vì sao có thể nói Nguyễn Trãi là một nhân vật lịch sử vĩ đại?

2- Em đã đọc những tác phẩm nào của Nguyễn Trãi? Hãy giới thiệu sơ lược một vài tác phẩm tiêu biểu.

3- Phân tích vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua một số câu thơ mà em cảm nhận sâu sắc nhất.

4- Nêu khái quát những giá trị cơ bản về nội dung và nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Trãi.

Phần II- Tác phẩm Đại cáo bình Ngô

1- Bài Đại cáo bình Ngô gồm 4 đoạn. Hãy tóm lược nội dung của từng đoạn hướng vào chủ đề chung của bài cáo là nêu cao tư tưởng nhân nghĩa và tư tưởng độc lập dân tộc như thế nào?

2- Tìm hiểu đoạn mở đầu: “Từng nghe …. chứng cớ còn ghi”:

  1. a) Có những chân lí nào được khẳng định để làm chỗ dựa, làm căn cứ xác đáng cho việc triển khai toàn bộ nội dung bài cáo?
  2. b) Vì sao đoạn mở đầu có ý nghĩa như lời tuyên ngôn độc lập?
  3. c) Tác giả đã có cách viết như thế nào để làm nổi bật niềm tự hào dân tộc?

(Lưu ý cách sử dụng từ ngữ, sử dụng nghệ thuật so sánh, câu văn biền ngẫu sóng đôi, cân xứng, cách nêu dẫn chứng từ thực tiễn….)

3- Tìm hiểu đoạn 2 “Vừa rồi…. Ai bảo thần dân chịu được”

  1. a) Tác giả tố cáo những âm mưu, những hành động tội ác nào của giặc Minh? Âm mưu nào thâm độc nhất, tội ác nào man rợ nhất?
  2. b) Nghệ thuật của đoạn cáo trạng tội ác kẻ thù có gì đặc sắc? (Những câu văn giàu hính tượng; giọng văn thay đổi linh hoạt, phù hợp với cảm xúc…)

4- Tìm hiểu đoạn 3- “Ta đây… Cũng chưa thấy xưa nay”

  1. a) Giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn được tác giả tái hiện như thế nào? (Có những khó khăn gian khổ nào? Người anh hùng Lê Lợi tiêu biểu cho cuộc khởi nghĩa có ý chí, quyết tâm như thế nào? Sức mạnh nào giúp quân ta chiến thắng?)
  2. b) Khi tái hiện giai đoạn phản công thắng lợi, bài cáo miêu tả bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn:

– Cho biết những trận đánh nào, mỗi trận có đặc điểm gì nổi bật?

– Phân tích những biện pháp nghệ thuật miêu tả thế chiến thắng của ta và sự thất bại của giặc.

– Phân tích chất hùng tráng của đoạn văn được gợi lên từ ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu câu văn.

5- Tìm hiểu đoạn kết:

– Giọng văn ở đoạn này có gì khác với những đoạn trên? Do đâu có sự khác biệt đó?

– Trong lời tuyên bố nền độc lập dân tộc đã được lập lại, Đại cáo bình Ngô đồng thời nêu lên bài học lịch sử. Theo em, có những bài học lịch sử nào và ý nghĩa của nó đối với chúng ta ngày nay?

6- Rút ra những giá trị chung về mặt nội dung nghệ thuật của Đại cáo bình Ngô, đồng thời phân tích những giá trị đó:

– Đại cáo bình Ngô được coi là bản tuyên ngôn độc lập, tác phẩm có mang ý nghĩa tuyên ngôn về quyền sống của con người hay không? Hãy lí giải.

– Đại cáo bình Ngô có sự kết hợp hài hòa yếu tố chính luận và yếu tố văn chương, em hãy phân tích để làm sáng tỏ đặc điểm này về các mặt: kết cấu; lập luận; nghệ thuật sử dụng từ ngữ; xây dựng hình tượng; nghệ thuật sử dụng câu văn, nhịp điệu.

                             ———————————————-

 NỘI DUNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 11

 

BÀI 1: “LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG” (PHAN BỘI CHÂU)

  1. Tác giả

– Phan Bội Châu là lãnh tụ của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX. Sự nghiệp cứu nước của ông không thành nhưng tấm lòng yêu nước của ông còn mãi với muôn đời. Lãnh tụ Nguyễn ái Quốc từng suy tôn ông là “bậc anh hùng vị thiên sứ” được 25 triệu đồng bào tôn kính.

– Sinh ra giữa cuộc đời, ông không hề nghĩ mình là nhà văn. Nhưng thực tế trên bước đường hoạt động cách mạng, ông đã trở thành nhà văn lớn của dân tộc. Tên tuổi của ông gắn liền với hàng trăm bài thơ, hàng chục cuốn sách, một số bài văn tế, vài ba vở tuồng chan chứa tình yêu nước. Đúng như lời thơ của Tố Hữu “Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng”.Thơ văn của ông là thành tựu rực rỡ nhất của thể loại văn chương tuyên truyền cổ động.

  1. Tác phẩm
    1. Hoàn cảnh sáng tác

    – Viết năm 1905, đất nước vẫn còn tăm tối nhưng phong trào cách mạng đã bắt đầu hé lên. Theo chủ trương của Duy Tân hội do chính ông sáng lập, ông bắt đầu sang Nhật để tìm đường cứu nước. Bài thơ “Xuất dương lưu biệt” ông làm tặng các đồng chí trong buổi đầu lên đường.
  2. Nội dung ôn tập

a/ Hai câu đề: Quan niệm về chí làm trai và cái tôi đầy trách nhiệm của nhà thơ trước thời cuộc.

“Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời”

         Ở hai câu đề tác giả nêu nên vấn đề:

* Chí làm trai.

– Chí làm trai vốn là quan niệm nhân sinh thời phong kiến: Làm trai phải tề gia trị quốc bình thiên hạ, tức là phải nên công danh sự nghiệp, phải để lại tiếng thơm cho đời, phải thoả chí tang bồng …

+  Quan niệm đó ít nhiều có liên quan đến tư tưởng nam tôn nữ ti. Bên cạnh mặt tiêu cực, nó cũng có mặt tích cực. Chính trong cái tích cực, cái hùng khí của lý tưởng nhân sinh ấy đã giúp không ít người làm nên sự nghiệp hiển hách : Với Phạm Ngũ Lão “Công danh nam tử còn vương nợ”; Với Nguyễn Công Trứ “Chí làm trai nam bắc tây đông, cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn biển”.

+  Còn với Phan Bội Châu, Ông nghĩ đến chí làm trai trong sự nghiệp cứu nước với một cảm hứng, một ý tưởng thật lớn lao mãnh liệt:

“Phải lạ ở trên đời”

→  Làm trai phải lạ ở trên đời có nghĩa là phải làm một việc gì đó khác lạ lớn lao cho cuộc đời, không sống tầm thường thụ động. Nói cách khác làm trai trong điều kiện hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ thì cái “lạ ở trên đời” chỉ có thể là xoay trời chuyển đất, làm một cái gì đó lớn lao cho dân cho nước.

* Tư thế của con người trước vũ trụ :

Há để càn khôn tự chuyển dời

– “Càn khôn” là đất trời. Há để trời đất tự xoay chuyển. Không! Tự mình phải chủ động tham gia vào quá trình chuyển xoay đó, chứ không thể ngồi chờ đợi một cách thụ động vô vị và nhạt nhẽo.

+ Câu thơ mang dáng dấp một câu hỏi, hỏi nhưng hàm ý khẳng định vai trò chủ động của con người trước vũ trụ.

+ Như vậy, từ quan niệm về chí làm trai, Phan Bội Châu đã thể hiện một tư thế, một tâm hồn rất đẹp của chí làm trai.

→ Có thể nói cảm hứng và ý chí của Phan Bội Châu thật táo bạo và tràn đầy hùng tâm tráng khí. ở vào hoàn cảnh nước ta vào những năm đầu của thế kỷ XX, khi phong trào Cần vương cuối cùng đã thất bại, khi con đuờng cứu nước còn đang đen tối, thì việc thức tỉnh chí làm trai, xác định rõ vai trò của con người đối với non sông của nhà chí sĩ yêu nước là việc làm rất cần thiết và có ý nghĩa trọng đại. Hai câu đề ngắn gọn nêu bật được tư thế có tính chất vũ trụ của người thanh niên yêu nước có chí hướng, có bản lĩnh.

b/ Hai câu thực :

“Trong khoảng trăm năm cần có tớ

Sau này muôn thuở há không ai”

* vai trò của cái tôi .

“Trong khoảng trăm năm cần có tớ”,

– “Ngã” nghĩa là “ta” mà bản dịch dịch là “tớ”.

+ Ta (hay “tớ”) ở đây không ai khác chính là nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu. Trong khoảng trăm năm của cuộc đời con người, ta sẵn sàng gánh vác trách nhiệm đối với non sông đất nước. Đây không phải là sự vỗ ngực khoa trương để hưởng thụ mà câu thơ khẳng định niềm tự hào, ý thức trách nhiệm lớn lao của kẻ sĩ trong cảnh nước mất nhà tan.

+ Nói cách khác, câu thơ là sự ý thức rõ ràng về cái tôi cống hiến, cái tôi trách nhiệm lớn lao đáng kính trước lịch sử và xã hội.

→ ý tưởng đẹp đẽ này là sự kế thừa những tư tưởng vĩ đại của các bậc vĩ nhân trong lịch sử “Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng cam lòng”(Trần Quốc Tuấn), “Trời thử lòng trao cho mệnh lớn, ta gắng chí khắc phục gian nan”(Nguyễn Trãi).

* Quan niệm mới về chữ danh (vinh)

Sau này muôn thuở há không ai ?

– Chẳng nhẽ sau này lại không có ai dám xả thân gánh vác trách nhiệm đối với đất nước ? Điều đó là không thể có ở một dân tộc mà lịch sử dụng nước luôn gắn liền với giữ nước, luôn đề cao chí làm trai, chí nam nhi. Vậy trong khoảng trăm năm của cuộc đời ta, ta hãy cứ xả thân , gánh vác trách nhiệm đối với giang sơn đất nước đi. Nhất định sau này (nghìn năm sau) sẽ có người kế tục sự nghiệp vẻ vang của ta.

+ Nhưng ta cũng có thể hiểu theo một ý khác : Chẳng lẽ sau này không ai còn nhớ đến những người đã dám xả thân vì nước. Điều đó là vô lý, không đúng với truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Những tấm gương đó mãi mãi là được líc sử ghi nhận. Vậy còn đợi gì nữa mà không xả thân vì nước để được lưu danh thiên cổ.

+ Dù hiểu theo cách nào, chúng ta cũng thấy: Câu thơ như một câu hỏi, hỏi mình, hỏi người, hỏi thời đại. Hỏi đấy nhưng cũng giục giã đấy. Giục giã mọi người hãy xả thân vì nước để được lưu danh thiên cổ. Nên bản chất chữ danh mà Phan Bội Châu đưa ra không phải chữ danh lợi tầm thường mà nó là chữ danh gắn với lợi ích của giống nòi.

+ Hai câu 3-4 đối nhau, lấy cái phủ định để làm nổi bật điều khẳng định, lấy cái hữu hạn (bách niên –1 cuộc đời) đối với cái vô hạn (thiên tải của lịch sử của dân tộc). Phan Bội Châu đã tạo ra một giọng thơ đĩnh đạc hào hùng, biểu lộ một quyết tâm và khát vọng trong buổi đầu lên đường.

→ Giữa cuộc sống tối tăm của đất nước lúc đó, có được ý thức về cái tôi về sự lưu danh thiên cổ bằng sự nghiệp cứu nước quả là cao cả vô cùng.

  1. Hai câu luận :

Non sông đã chết sống thêm nhục

Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.

* Suy nghĩ về nỗi nhục

– Đối với Phan Bội Châu, lưu danh thiên cổ bằng sự xả thân vì nước thì nỗi nhục đối với ông là nỗi nhục mất nước

Non sông đã chết sống thêm nhục.

+ Non sông đã chết tức là non sông đã bị giặc ngoại bang xâm chiếm, giày xéo. Thân phận dân ta lúc đó cũng chỉ như kiếp trâu ngựa, có sống cũng nhơ nhuốc nhục nhã. Sống mà như đã chết.

+ Đó là nỗi vinh nhục gắn với vận mệnh đất nước, mang ý nghĩa lớn lao.

→ Quả thực suốt cuộc đời mình, Phan Bội Châu cùng các đồng chí của mình và rồi cả những người cộng sản sau này đã sống và chết theo quan niệm như vậy.

                                   Hiền thánh còn đâu học cũng hoài

– Phan Bội Châu đã nêu nên thái độ đối với nền học vấn cũ trước vận mệnh đất nước lầm than.

       + Hiền thánh: chỉ sách vở của thánh hiền. Tức là sách vở chỉ dẫn dăn dạy những điều hay lẽ phải (thậm chí cả thuật trị nước) theo lý tưởng phong kiến.

Còn giờ đây, trong cảnh nước mất nhà tan, có sôi kinh nấu sử, có chúi đầu vào con đường khoa cử hỏi cũng có ích gì trong sự nghiệp cứu nước cứu nhà. Sách vở thánh hiền lúc này đâu còn là kim chỉ nam nên Phan Bội Châu mới nói

       + Học cũng hoài nghĩa là : học cũng chẳng giúp được gì . Và như thế Phan Bội Châu đã nêu lên ý định từ bỏ sách vở, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết.

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, muốn tề gia trị quốc bình thiên hạ thì phải gắn với cửa khổng sân trình, đỗ đạt làm quan. Nên mới có một Tú Xương tron đời cắp sách đi thi mong đỗ ông nghè ông cống giúp dân giúp đời. Phan Bội Châu cũng là người của cửa khổng sân trình mà lại có ý tưởng từ bỏ sách vở thì quả là một ý tưởng mới mẻ có ý nghĩa tiên phong đối với thời đại.Có được ý tưởng đó là nhờ tinh thần dân tộc cao độ, nhờ nhiệt huyết cứu nước và cả luồng ánh sáng mới về ý thức hệ mà Phan Bội Châu đón nhận qua phong trào tân thư đầu thế kỷ.

  1. Hai câu kết

– Hai câu kết là hệ quả tất yếu nảy sinh từ quan niệm trên, ý nghĩ trên. Bài thơ kết lại trong tư thế hăm hở sôi trào của buổi đầu lên đường xuất dương cứu nước.

Nguyên văn chữ Hán là:

Nguyện trục trường phong Đông hải khứ

*/Câu 7 dịch là: Muốn vượt biển Đông theo cánh gió” – Mong muốn đuổi theo ngọn gió dài đi qua biển Đông. Câu dịch thơ lại là “Muốn vượt bể Đông theo cá nh gió” – đạp bằng gian khó để thực hiện được khát vọng giải phóng dân tộc. Nhưng câu dịch thơ chỉ chú trọng đến ý “vượt bể Đông” mà không chú trọng đến ý thơ nhà thơ ý thức được gian khó nhưng vẫn khao khát vượt qua, đuổi theo. Do vậy bản dịch làm mất đi đôi chút vẻ can trường, mạnh mẽ, lớn lao của nhân vật trữ tình.

*/câu 8: Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.( Muôn lớp sóng bạc cùng một lúc bay lên).
Đó là hình ảnh thơ kỳ vĩ lãng mạn, đầy phấn kích. Nhưng người dịch dịch là “Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”, thì quả là đã đánh mất cái tư thế trào lên, dâng lên, chỉ còn lại cái không khí êm ả của buổi lên đường. Điều đó không phù hợp với không khí chung của toàn bài, làm mất đi cái kì vĩ, hào sảng, đầy lãng mạn, hùng tráng của người chí sĩ trong buổi lên đường.

III. Kết luận

Bài thơ thể hiện vẻ đẹp trong tư thế, trong ý nghĩ, trong nhiệt tình và quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của tác giả – nhà cách mạng lớn.

Bài thơ chỉ có 56 chữ mà chứa đựng một nội dung tư tưởng vừa phong phú, vừa lớn lao : Có chí làm trai, có khát vọng xoay trời chuyển vũ trụ, có hoài bão lưu danh thiên cổ, có quan niệm vinh nhục ở đời, có thái độ mới mẻ và táo bạo về sách vở của thánh hiền, có tư thế ra đi cứu nước. Tất cả thể hiện một nhiệt tình cứu nước sôi sục tuôn trào.

Nói đến thơ hay là phải nói đên giọng điệu riêng. “Xuất dương lưu biệt” có cái giọng điệu riêng đó, chính là giọng điệu tâm huyết tuôn trào.

        ————————————————————————

 

BÀI 2:  HẦU TRỜI

  1. Kiến thức cơ bản
  2. Tác giả – tác phẩm

-Tản Đà: (1889-1939), tên thật Nguyễn Khắc Hiếu

– Quê hương: Tỉnh Sơn Tây (Nay thuộc tỉnh Hà Tây)

– Con người:

+ Sinh ra và Lớn lên trong buổi giao thời.

+ Là “người của hai thế kỷ” (Hoài Thanh)

+ Học chữ hán từ nhỏ nhưng về sau chuyển sang sáng tác văn chương bằng chữ quốc ngữ…

–  Phong cách thơ:

+ Lãng mạn, bay bổng, vừa phóng khoáng, ngông nghênh, vừa cảm thương ưu ái.

+ Có thể xem thơ văn ông như một gạch nối giữa hai thời văn học của dân tộc: trung đại và hiện đại.

Các tác phẩm

– Thơ: Khối tình con người I, II (1916, 1918)

– Truyện: Giấc mộng con người I, II (1916, 1932)

– Tự truyện: Giấc mộng lớn (1928)

– Thơ và văn xuôi: Còn chơi (1921).

  1. Văn bản “Hầu trời”
  2. a) Xuất xứ

– Trong tập “Còn chơi” (1921)

– Bài thơ ra đời vào thời điểm khuynh hướng lãng mạn đã khá đậm nét trong văn chương thời đại. Xã hội thực dân nửa phong kiến tù hãm, u uất, đầy rẫy những cảnh ngang trái, xót đau…

  1. b) Bố cục:3 phần:

– Phần 1: Giới thiệu về câu truyện, từ “đêm qua … lạ lùng”

– Phần 2: “chủ tiên … chợ trời” Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe.

– Phần 3: “Trời lại phê cho… sương tuyết” thi nhân trò chuyện với trời.

  1. Nội dung cơ bản
  2. Giới thiệu câu chuyện

Gợi khoảnh khắc yên tĩnh, vắng lặng.”- Câu chuyện xảy ra vào “đêm qua” (câu 1)

– Câu chuyện kể về một giấc mơ được lên cõi tiên (câu 4).

– Nhân vật trữ tình là tác giả, đang mang tâm trạng “chẳng phải hoảng hốt, không mơ màng”

– Biện pháp nghệ thuật: nhấn mạnh tâm trạng cảm xúc của thi nhân.

+ Điệp từ ‘thật” Bộc lộ cảm xúc bàng hoàng

+ Câu cảm thán dường như lật lại vấn đề: mơ và tỉnh, hư mà như thực.

+ Câu khẳng định

– Cách giới thiệu trên đã gợi cho người đọc về tứ thơ lãng mạn nhưng cảm xúc là có thực. Tác giả muốn người đọc cảm nhận được cái “hồn cốt” trong cõi mộng, mộng mà như tỉnh, hư mà như thực.

=> Cảm nhận được “cái tôi” cá nhân đầy chất lãng mạn, bay bổng pha lẫn nét “ngông” trong thơ thi nhân. Với cách vào chuyện độc đáo có duyên đã làm cho câu chuyện mà tác giả sắp kể trở nên hấp dẫn lôi cuốn.

  1. Thi nhân đọc thơ cho trời và chư tiên nghe
  2. a) Thái độ của thi nhân khi đọc thơ và việc thi nhân nói về tác phẩm của mình:

– Thi nhân đọc rất cao hứng, sảng khoái và có phần tự đắc:

“ Đọc hết văn vần sang văn xuôi
Hết văn thuyết lý lại văn chơi”

– Thi nhân kể tường tận, chi tiết về các tác phẩm của mình:

“Hai quyển khối tình văn lý thuyết
Hai khối tình còn là văn chơi
Thần tiên, giấc mộng văn tiểu thuyết….”

– Giọng đọc: đa dạng, hóm hỉnh, ngông nghênh có phần tự đắc.

=> Đoạn thơ cho thấy thi nhân rất ý thức về tài năng văn thơ của mình và cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ “cái tôi” cá thể. Ông cũng rất “ngông” khi tìm đến trời để khẳng định tài năng. Đây là niềm khát khao chân thành trong tâm hồn thi sĩ.

  1. b) Thái độ của người nghe: Rất ngưỡng mộ tài năng thơ văn của tác giả

– Thái độ của trời: khen rất nhiệt thành: văn thật tuyệt, văn trần được thế chắc có ít, văn chuốt như sao băng…

– Thái độ của chư tiên: xúc động, hâm mộ và tán thưởng…Tâm nở dạ, cơ lè lưỡi…

=> Cả đoạn thơ mang đậm chất lãng mạn và thể hiện tư tưởng thoát li trước cuộc đời.

  1. Thi nhân trò chuyện với trời
  2. a) Thi nhân kể về hoàn cảnh của mình

– Thi nhân kể họ tên, quê quán:

“ Con tên Khắc Hiếu họ Nguyễn
Quê ở Á châu về địa cầu
Sông Đà núi Tản nước Việt Nam”

→ Trong văn chương việc thể hiện họ tên trong tác phẩm chính là một cách để khẳng định cái tôi cá nhân của mình.

– Thi nhân kể về cuộc sống: Đó là một cuộc sống nghèo khó, túng thiếu, thân phận nhà văn bị rẻ rúng, coi thường. Ở trần gian ông không tìm được tri âm, nên phải lên tận cỏi trời để thỏa nguyện nỗi lòng.

“Bẩm trời hoàn cảnh con thực nghèo khó”
“Trần gian thước đất cũng không có”
“Văn chương hạ giới rẻ như bèo”
“Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu”

→ Đó cũng chính là hiện thực cuộc sống của người nghệ sĩ trong xã hội lúc bấy giờ, một cuộc sống cơ cực không tấc đất cắm dùi, thân phận bị rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn.

=> Qua đoạn thơ tác giả đã cho người đọc thấy một bức tranh chân thực và cảm động về chính cuộc đời mình và cuộc đời nhiều nhà văn nhà thơ khác.

=> Cảm hứng hiện thực bao trùm cả đoạn thơ này.

  1. b) Trách nhiệm và khát vọng của thi nhân

–  Nhiệm vụ trời giao: Truyền bá thiên lương.

+ Nhiệm vụ trên chứng tỏ Tản Đà lãng mạn chứ không hoàn toàn thoát ly cuộc sống. Ông vẫn ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm đối với đời để đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc hơn. Đó cũng là một cách tự khẳng định mình trước thời cuộc.

+ Thi nhân khát khao được gánh vác việc đời

=> Như vậy có thể nói trong thơ Tản đà cảm hứng lãng mạn và cảm hứng hiện thực đan xen khăng khít.

III. Tổng kết

  1. Nội dung

– Bài thơ thể hiện cái tôi cá nhân ngông nghênh, kiêu bạc, hào hoa và cái tôi cô đơn, bế tắc trước thời cuộc.

– Có thể thấy nhà thơ đã tìm được hướng đi đúng đắn để khẳng định mình.

  1. Nghệ thuật

– Cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn người đọc.

– Ngôn ngữ thơ chọn lọc, tinh tế, gợi cảm, không cách điệu, ước lệ.

– Tác giả vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật chính.

– Cảm xúc bộc lộ thoải mái, tự nhiên, phóng túng.

– Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do…

                                      ————————————————-

PHẦN 2: HƯỚNG DẪN CHUẨN BỊ BÀI MỚI

Bài 1: VỘI VÀNG

Phần 1:  Hướng dẫn soạn bài mới

Câu 1. Cả bài thơ là một dòng cảm xúc hối hả, tuôn trào nhưng vẫn tuân theo một bố cục khá rõ ràng, chặt chẽ

 Bài thơ có thể chia làm bốn đoạn:

 – 4 câu đầu: Khát khao lưu giữ hương sắc mùa xuân.

– Câu 5 – 13: Vui thích, say mê trước cảnh sắc mùa xuân.

– Câu 14 – 29: Băn khoăn trước giới hạn của cuộc đời.

 – Đoạn còn lại: Hối hả, cuồng nhiệt đến với cuộc sống.

Câu 2.  Khát khao lưu giữ hương sắc mùa xuân.

– “Tắt nắng”, “buộc gió” là quyền uy của Tạo Hóa. Cho dù Xuân Diệu là thi sĩ thì ông vẫn là con người làm sao có được khả năng vô hình đó. Chỉ vì quá yêu cuộc sống nên mới ước ao và nảy sinh ý tưởng táo bạo. Muốn níu giữ sắc hương, níu giữ mùa xuân cũng có nghĩa là muốn níu giữ thời gian cùng với vẻ đẹp cuộc sống cho mình, cho người. Cách biểu đạt mới lạ, độc đáo.

– Bốn dòng thơ, mỗi dòng năm chữ, ngắn, gấp. Nhịp thơ góp phần diễn tả sự khẩn trương muốn ngăn lại không cho màu nhạt, hương bay. Điệp kiểu câu “Tôi muốn … cho” càng làm nổi bật khát khao lưu giữ được sắ hương cuộc đời để mãi được cùng sống với nó.

Câu 3.

 Bức tranh mùa xuân ở độ “thời tươi” qua cảm nhận của một tâm hồn đang ở “thời trẻ”:

Của ông bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si;

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;

Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.

–  Hình ảnh thơ tập trung làm nổi bật vẻ tinh khôi, thanh tân, nõn nà, rực rỡ của mùa xuân \

–  Cảnh xuân không chỉ đẹp mà còn gợi tình

–  Cảnh sắc vốn quen thuộc nhưng bằng lỗi cảm nhận riêng, mới lạ, Xuân Diệu đã thổi vào thiên nhiên một tình yêu rạo rực khiến những hình ảnh vô tri vô bỗng sống dậy tràn ngập xuân tình.

+  Câu thơ “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” mang dấu ấn thơ Xuân Diệu rất rõ. Trước hết là cách dùng từ chuyển đổi cảm giác quen thuộc của Xuân Diệu. Thi sĩ không thưởng thức mùa xuân bằng giác gian thông thường (nhìn, ngắm, lắng nghe) mà ông đang say sưa nhấm nháp hương vị của nó, cảm nhận được độ “ngon” mà mùa xuân đang dâng hiến. Mặt khác, ta còn thất ở câu thơ hấp dẫn, quyến rũ như hưởng thụ thiên nhiên rất Xuân Diệu. Mùa xuân hấp dẫn mà như đang thưởng thức “cặp môi” giai nhân. Quả là một cách ví von so sánh mới mẻ, táo bạo góp phần làm nổi bật niềm say mê cái đẹp trần thế đáng quý ở tác giả.

+ Điệp ngữ “Này đây…” cùng với hàng loạt âm hình ảnh, màu sắc, âm thanh, Xuân Diệu đã liệt kê vẻ đẹp muôn màu của xuân, bày sẵn quanh ta, chẳng cần phải tìm kiếm. Chỉ cần có tâm hồn yêu thiết tha cuộc sống thì tha hồ nhìn ngắm, thưởng thức.

→  Đoạn thơ này là tiêu điểm góp phần lí giải các trạng thái cảm xúc của tác giả ở bốn câu đầu và những câu thơ tiếp theo.

Câu 4:

Đoạn cuối của bài thơ:

– Đó là lời giúc giã sống vội vàng, cuống quýt của thi sĩ.

– Điệp ngữ “Ta muốn”: khát vọng sống mãnh liệt, khát vọng được yêu thương

 – Liệt kê: hình ảnh “mây, gió, cánh bướm, non nước, cây, cỏ …” cảm nhận về không gian của cuộc sống mới mơn mởn, đầy ánh sáng rất đáng yêu.

– Cảm nhận về mùi vị “thơm” hương cuộc sống. Thính giác cảm nhận “thanh sắc của thời tươi”, “Cái hôn”,“cắn”

→ Cảm giác mãnh hệt, vồ vập, yêu thương

– “Ta muốn ôm  →riết → say → thâu → cắn”: các động từ, tăng tiến thể hiện sự vồ vập, đắm say →  tình yêu mãnh liệt táo bạo của một cái “tôi” thi sĩ yêu cuộc sống cuồng nhiệt, tha thiết với mềm vui trần thế, tâm thế sống tích cực.

→  Nét độc đáo về nghệ thuậ của đoạn thơ đó là những làn sóng ngôn từ đan xen, cộng hưởng theo chiều tăng tiến đã diễn tả rất thành công khao khát mãnh liệt của tác giả.

 Phần 2 II:  Luyện tập

  1. Xuân Diệu đặt tên bài thơ là “Vội vàng”, bởi lẽ: Xuân Diệu yêu tha thiết cuộc sống, cuộc sống quanh ta rất đẹp nhưng tuổi trẻ qua nhanh, đời người ngắn ngủi, thời gian, không chờ đợi. Phải khẩn trương, hối hả đến với cuộc sống để tận hưởng vẻ đẹp của cuộc đời.
  2. Quan điểm nhân sinh của Xuân Diệu được thể hiện qua bài thơ có mặt tích cực: Yêu mùa xuân và tuổi trẻ – những cái đẹp nhất của cuộc sống, hãy sống hết mình sao cho mỗi khoảnh khắc của đời mình có ý nghĩa. Đó là quan điểm sống tích cực, có giá trị nhân văn sâu sắc.

                          ——————————————————————-

Bài 2: TRÀNG GIANG

 

Phần  1:  Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Câu thơ đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”

– Cảnh: trời rộng, sông dài: không gian mênh mông, rộng lớn. Mang tầm vũ trụ. Biện pháp nghệ thuật ẩn dụ cho thấy nỗi nhớ của nhà thơ.

– Cảm xúc chủ đạo của bài thơ chính là nỗi buồn, tâm trạng khắc khoải trước vũ trụ bao la bát ngát.

Câu 2:

Âm điệu chung của bài thơ:

– Bài thơ mang một âm điệu buồn, bâng khuâng, man mác da diết, sầu nặng

– Nhịp thơ 3 – 4 tạo nên một âm điệu đều đều, bình lặng.

– Âm điệu giống như, dập dềnh trên sông và trên biển.

Câu 3:

Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ mang đậm màu sắc cổ điển và vẫn gần gũi, thân thuộc được thể hiện nhiều nhất ở khổ thơ đầu tiên:

–  3 câu thơ đầu mang đậm màu sắc cổ điển:

+ Hình ảnh “sóng gợn” và “con thuyền xuôi mái” mang vẻ đẹp tĩnh lặng, nhẹ nhàng thường thấy trong thơ cổ. Bức tranh thiên nhiên hoang sơ, rộng lớn và nhuộm màu tâm trạng.

– Câu thơ thứ 4 mang vẻ đẹp hiện đại:

+ Hình ảnh “củi một cành khô”: mộc mạc, bình dị gần gũi, ít gặp trong thơ cổ.

+ Hình ảnh thiên nhiên ước lệ tượng trưng thường dùng trong thơ cổ

+ Giọng điệu, âm hưởng có chút gì đó mang âm hưởng cổ kính, trang nghiêm, đậm chất Đường thi:

=> Sự hòa quyện của hai hệ thống hình ảnh vừa cổ điển, vừa gần gũi thân thuộc nêu trên tạo cho bài thơ một vẻ đẹp độc đáo: đơn sơ mà tinh tế, cổ điển mà quen thuộc

Câu 4:

Tình yêu thiên nhiên của tác giả vẫn luôn chứa đựng và ấp ủ một lòng yêu nước da diết, thầm kín.

+ Thiên nhiên trong bài thơ là những hình ảnh quen thuộc của cảnh sắc quê hương đất nước: sóng gợn, thuyền xuôi mái, cành củi khô, bèo dạt, bờ xanh, bãi vàng, mây núi, cánh chim…

– Thế nhưng buồn mà không bi quan, chán nản và thông qua bài thơ ta nhận thấy lắng sâu một tình yêu quê hương tha thiết, nồng nàn của nhà thơ

Câu 5:

Những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ:

– Bài thơ có sự kết hợp hài hoà của hai yếu tố cổ điển và hiện đại.

– Thể thơ thất ngôn trang nghiêm, cổ kính, với cách ngắt nhịp quen thuộc tạo nên sự cân đối, hài hòa

– Ngôn ngữ thơ cô đọng,hàm súc

– Sử dụng thủ pháp nghệ thuật ước lệ tượng trưng

– Sử dụng nhiều từ Hán-Việt tạo nên vẻ trang trọng cổ kính của bài thơ

– Các biện pháp tu từ: nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, điệp ngứ, đối

– Sử dụng thành công các loại từ láy: láy âm (Tràng Giang, đìu hiu, chót vót, …), láy hoàn toàn (điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn,…)

Phần 2: Luyện tập

Bài 1:

Cách cảm nhận không gian, thời gian trong bài thơ có những điểm đáng chú ý như:

– Không gian: mênh mông, rộng lớn, mang tầm vũ trụ: trời rộng, sông dài.

+ Hình ảnh con thuyền cứ khuất dần rồi xa mờ hẳn, nước đành chia “Sầu trăm ngả” không gian giờ đã được mở rộng ra đến trăm ngả, vô tận mênh mang không có lấy một điểm tựa nào,…

+ Hai câu thơ cuối của khổ 2 đã mở ra một không gian ba chiều: chiều sâu, xa và cao. Từ chiều dọc không gian mở ra chiều ngang, lan tỏa đôi bờ. Chiều thứ ba của không gian vũ trụ mở ra bầu trời sâu chót vót.

+ Không gian luôn mang một màu buồn man mác, trôi xa, vẫn hắt hiu, vẫn xa vắng lạ lùng

– Giữa không gian mênh mông, buồn như vậy thì thời gian cũng như được kéo dài ra, trải dài hơn.

Câu 2:

    Câu thơ cuối đặc điễn tả tâm trạng của thi nhân: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Câu thơ mang một âm hưởng của Đường thi nhưng có sự sáng tạo.

    Thôi Hiệu trong bài “Hoàng Hạc Lâu” kết thúc bằng hai câu thơ:

    “Nhật mộ hương quan hà xứ thị

     Yên ba giang thượng sử nhân sầu”

    Cả hai tác giả đều dùng hình ảnh “khói sóng trong hoàng hôn” để diễn tả nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, da diết của mình. Tuy nhiên, khác với Thôi Hiệu, Huy Cận chẳng cần đến khói sóng mà câu thơ bỗng òa lên nứt nở. Nỗi nhớ nhà nhớ quê như hòa với tình yêu sông núi. Đó là tâm trang chung của mỗi người dân mất nước. Tác giả không cần mượn tới ngoại cảnh mà vẫn tự biểu hiện với những cung bậc cảm xúc thiết tha, vẫn thể hiện rõ nội tâm, nỗi lòng của mình

 PHẦN I- NỘI DUNG ÔN TẬP

HƯỚNG DẪN ÔN TẬP BÀI VỢ CHỒNG A PHỦ

  1. VỀ TÁC GIẢ

– Tô Hoài sinh năm 1920, tên khai sinh là Nguyễn Sen, quê nội ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội nhưng ông sinh ra và lớn lên ở quê ngoại phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

– Ông quan niệm: “Viết văn là một quá trình đấu tranh để nói ra sự thật. Đã là sự thật thì không tầm thường, cho dù phải đập vỡ những thần tượng trong lòng người đọc”.  Văn chương của Tô Hoài hấp dẫn độc giả bằng lối trần thuật hóm hỉnh, vốn từ phong phú và vốn kiến thức sâu rộng. Năm 1996, Tô Hoài nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

– Tác phẩm chính: Dế Mèn phiêu lưu kí (truyện đồng thoại, 1941), O chuột (tập truyện, 1942), Quê người (tiểu thuyết, 1942), Nhà nghèo (tập truyện, 1944), Truyện Tây Bắc (tập truyện, 1953), Miền Tây (tiểu thuyết, 1967), Cát bụi chân ai (hồi kí, 1992), Chiều chiều (hồi kí – tự truyện, 1999),

  1. VỀ HOÀN CẢNH SÁNG TÁCVỢ CHỒNG A PHỦ

Vợ chồng A phủ là truyện ngắn được in trong tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài – giải Nhất, Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955. Truyện Tây Bắc là kết quả của những đợt Tô Hoài thâm nhập vào cuộc sống của đồng bào dân tộc ít người vùng Tây Bắc và cũng đánh dấu sự chín muồi về tư tưởng và tình cảm của nhà văn. Vợ chồng A Phủ được sáng tác năm 1952 khi Tô Hoài tham gia cùng bộ đội giải phóng Tây Bắc.

III. NỘI DUNG CHÍNH

  1. Hình tượng nhân vật Mị

Cuộc đời khổ nhục của kiếp làm dâu gạt nợ:

– Mị vốn là một cô gái Mèo, là hình ảnh tiêu biểu cho số phận của những người phụ nữ miền núi:

+ Mị sinh ra trong một gia đình nhà nghèo, hiếu thảo, có ý thức với bản thân và gia đình

+ Mị là người con gái đẹp người, đẹp nết, có tài thổi sáo, có biết bao trai làng say mê theo đuổi Mị “Trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị (). Có biết bao người say mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị” và Mị đã có ng­ười thương…

Một người con gái như vậy, đáng lẽ Mị phải đư­ợc hư­ởng cuộc sống tự do, hạnh phúc cho dù trong cảnh nghèo khó… Nhưng cuộc đời Mị lại không đi theo hướng đó. Vì món nợ truyền kiếp từ thời cha mẹ cư­ới nhau “…bố Mị lấy mẹ Mị không đủ tiền cưới, phải đến vay nhà thống lí… Mỗi năm đem nộp lãi cho chủ nợ một nương ngô… Người vợ chết, cũng chưa trả hết nợ”, thế rồi Mị bị bắt làm dâu gạt nợ. Từ cái đêm Mị bị bịt mắt, bị nhét giẻ vào miệng và đem về cúng trình ma nhà thống lí Pá Tra, Mị trở thành vợ của A Sử “Cô Mị về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm. Từ năm nào, cô không nhớ, cũng không ai nhớ”. Cuộc đời của Mị đã hoàn toàn thay đổi, cô phải chịu muôn vàn nỗi khổ nhục trong kiếp sống trâu ngựa của một kẻ làm dâu gạt nợ “Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”.

– Một cuộc đời đầy khổ nhục:

+ Ngày cũng nh­ư đêm, mùa mư­a cũng như­ mùa nắng… lúc nào Mị cũng vùi đầu vào công việc. Mị không bao giờ đư­ợc đi chơi dù đó là ngày Tết “Chẳng năm nào A sử cho Mị đi chơi Tết”, chỉ có công việc nối tiếp nhau ngày này qua tháng khác: “Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi”.

+ Căn buồng Mị ở chẳng khác nào một nhà ngục giữa trần gian dùng giam lỏng Mị “Căn buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”.

+ Cuộc đời Mị lúc này còn đau khổ hơn kiếp sống của thân trâu ngựa “Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào làm việc cả đêm cả ngày”, không chỉ vậy, Mị còn bị đánh đập tàn nhẫn thậm chí còn bị trói đứng vào cột tưởng  chừng sẽ chết “…Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà. Tóc Mị xoã xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột, làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu được nữa”.

+ Mị còn bị trói buộc bởi thần quyền mà sự trói buộc này cũng ghê gớm chẳng kém gì sự trói buộc bởi cư­ờng quyền “nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn đợi ngày rũ xương ở đây thôi”, chính vì vậy mà Mị chấp nhận sống nhẫn nhục, cam chịu, không hi vọng thay đổi cuộc đời.

Như vậy nhà thống lí Pá Tra đã biến một cô Mị vui t­ươi, hồn nhiên yêu đời xư­a kia thành một con ngư­ời câm lặng, không nói, lúc nào cũng lùi lũi như­ con rùa nuôi sau xó cửa, Mị đã bị cha con nhà thống lí Pá Tra bóc lột cả về thể xác và tinh thần.

Số phận đầy đau khổ của Mị tiêu biểu cho số phận của ng­ười phụ nữ  Mèo trư­ớc Cách mạng. Qua đó tác giả đã tố cáo sâu sắc sự áp bức của cư­ờng quyền và thần quyền ở miền núi, đồng thời cũng thể hiện nỗi đồng cảm chân thành  với những kiếp ng­ười nô lệ đó.

– Trong con người Mị luôn tiềm tàng một sức sống mạnh mẽ: Mị cự tuyệt cuộc sống làm dâu gạt nợ “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu (…). Có tới hàng mấy tháng đêm nào Mị cũng khóc”.

Đã có lần Mị tìm đến cái chết để tự giải thoát cho chính mình “Trông thấy bố, Mị quỳ lạy, úp mặt xuống đất, nức nở (…). Mị ném nắm lá ngón xuống đất, nắm lá ngón Mị đã tìm hái trong rừng, Mị vẫn giấu trong áo (…). Mị đành lòng quay lại nhà thống lí”.

Sức sống đó chứng tỏ luôn tiềm ẩn trong Mị, sức sống ấy như một hòn than vùi sâu trong đống tro tàn vẫn cháy âm ỉ, có cơ hội nó sẽ bùng lên mạnh mẽ dữ dội…

– Sự bùng phát của sức sống tiềm tàng:

  Nguyên nhân:

Đất trời sang xuân “Hồng Ngài năm ấy ăn Tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội. Nhưng trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã được đem ra phơi trên mỏm đá xoè như con bướm sặc sỡ… Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm lên trên sân chơi trước nhà”.

Đặc biệt âm thanh tiếng sáo gọi bạn tình thực sự đã đánh thức tâm hồn đã nguội lạnh của Mị “Ngoài đầu núi lấp ló, đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi. Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi”.

Tết đến, Mị cũng uống rư­ợu “Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ừng ực từng bát” phải chăng Mị uống cho “bõ tức” hay ý thức về bản thân đang trỗi dậy trong con người Mị? Rượu làm cho Mị say lịm mặt đi nhưng chính men rượu đã giúp Mị quên hiện tại và nhớ về ngày tr­ước “Lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo”. Cảm giác thời gian đã trở về với Mị “Mị thấy phơi phới trở lại trong lòng đột nhiên thấy vui sướng như những đêm Tết ngày trước”, Mị cảm thấy mình vẫn trẻ đẹp “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi”. Nhưng chính lúc này một mâu thuẫn mới lại nảy sinh, Mị muốn chết “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa”. Phải chăng ý thức về bản thân đã trỗi dậy mạnh mẽ và sức sống tiềm ẩn trong Mị đã thực sự bùng phát?

Như vậy chính không gian của đất trời sang xuân cùng với âm thanh lửng lơ của tiếng sáo gọi bạn tình và men rượu chính là tác nhân khiến cho sức sống trong con người Mị trỗi dậy mạnh mẽ, nó như một ngọn gió xuân tốt lành thổi bùng lên ngọn lửa đang âm ỉ cháy trong hòn than bị vùi sâu trong đống tro đã tàn.

Cũng từ sự ý thức về thực tại mà Mị đã có những quyết định và hành động táo bạo “Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi”. Mị thắp sáng căn buồng của mình “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng” phải chăng Mị cũng muốn thắp sáng cuộc đời đầy tăm tối của mình? Mị quấn lại tóc, Mị với cái váy hoa trên vách…

Mị làm tất cả những việc này như­ một ng­ười mộng du không hề để ý tới những gì xung quanh, không để ý thấy A Sử đã vào. A Sử đã hỏi và thậm chí khi A Sử trói đứng vào cột Mị cũng không hề phản ứng. Ngay cả khi đã bị trói đứng vào cột, Mị vẫn nồng nàn nhớ về ngày tr­ước “Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi”. Mị chỉ thực sự trở về với hiện tại khi cô vùng bước đi và cả đêm ấy cô sống trong trạng thái lúc mê lúc tỉnh.

Như vậy, ngay trong tình huống bi thảm nhất thì sức sống tiềm ẩn trong con người Mị vẫn bùng cháy dữ dội. Nhà văn Tô Hoài đã thể hiện niềm tin vào những con ngư­ời khổ cực, ông đã nhập thân vào nhân vật để diễn tả những chuyển biến tinh tế của tâm trạng con ng­ười.

– Sức sống tiềm ẩn trong con người của Mị đã bùng cháy một lần thì chắc chắn nó sẽ không dừng lại ở đó và sức sống tiềm ẩn ấy trong Mị lại một lần nữa bùng cháy thực sự mạnh mẽ, dữ dội như không có sức mạnh nào có thể dập tắt. Đó chính là vào đêm mùa đông, Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ.

A Phủ để hổ bắt mất bò, bị Pá Tra trói mấy đêm nay và cũng mấy đêm nay Mị vẫn thức sưởi lửa, Mị vẫn thản nhiên như­ không có chuyện gì “Ngọn lửa sưởi bùng lên, cùng lúc ấy thì Mị cũng nhìn sang, thấy mắt A Phủ trừng trừng, mới biết A Phủ còn sống. Mấy đêm nay như thế. Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy cũng thế thôi”. Lúc này chính là lúc Mị sống trong trạng thái vô cảm và tâm hồn cô như đã tê dại và lạnh lẽo. Chỉ đến khi Mị nhìn thấy hai dòng n­ước mắt lăn trên gò má đã xám đen của A Phủ thì cô mới thực sự bừng tỉnh.

Cô nghĩ về cuộc đời mình, cô nhớ đến cái đêm năm trước cũng bị trói đứng như vậy “Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia”. Mị thư­ơng mình và từ đó Mị th­ương ng­ười cùng cảnh ngộ. Trong lòng Mị trỗi dậy sự căm thù đối với những kẻ đã gây nên tội ác “Chúng nó thật độc ác. Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”.

 Từ chỗ thương mình đến chỗ thương người, Mị sẵn sàng chết thay cho A Phủ “Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về cúng trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi… Người kia việc gì mà phải chết thế”. Và rồi Mị đã đi đến một hành động hết sức bất ngờ: “Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây(…) rồi Mị nghẹn lại”. Thế rồi Mị đứng lặng trong bóng tối và bỗng thấy hoảng sợ khi nghĩ đến cái chết. Điều đó chứng tỏ rằng ý thức ham sống trong Mị đã trỗi dậy mạnh mẽ, Mị quyết định chạy trốn theo A Phủ: “A Phủ cho tôi đi (…). Ở đây thì chết mất”. Hành động Mị cắt dây trói cho A Phủ cũng chính là hành động Mị tự giải thoát cho cuộc đời làm nô lệ của mình.

Tô Hoài đã diễn tả từng hành động, từng suy nghĩ của Mị hết sức tự nhiên hợp quy luật, chứng tỏ tài năng và tấm lòng nhân đạo của Tô Hoài đã giúp ông có những trang viết thành công. Nhà văn đã nói đ­ược một cách thấm thía và xúc động: Dù cho có bị chế độ phong kiến miền núi cùng với những hủ tục hà khắc trói buộc thì tận đáy sâu tâm hồn Mị vẫn tiềm tàng một sức sống mà chỉ cần có cơ hội thì sức sống ấy sẽ trỗi dậy không thể bị dập tắt…

Thông qua nhân vật Mị, chúng ta thấy đ­ược tấm lòng nhân đạo và tài năng phân tích tâm lí nhân vật hết sức đặc sắc của Tô Hoài. Chính điều đó đã làm nên sức sống lâu bền cho tác phẩm.

Bên cạnh việc xây dựng thành công nhân vật Mị, tác phẩm còn xây dựng đ­ược một nhân vật cũng thành công không kém đó là A Phủ.

  1. Về nhân vật A Phủ

– Ở cuộc đời A Phủ chúng ta thấy có những nét khá giống với cuộc đời của Mị. Nếu Mị là cô gái có đầy đủ khả năng để h­ưởng một cuộc sống hạnh phúc thì A Phủ cũng là niềm mơ ư­ớc của nhiều cô gái “Đứa nào đư­ợc A Phủ cũng bằng đư­ợc con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy chốc mà giàu”. Nh­ưng A Phủ lại chẳng thể nào lấy nổi vợ bởi A Phủ không cha không mẹ, không bạc tiền, không ruộng n­ương nhưng A Phủ vẫn muốn được sống như mọi người “…trong ngày Tết đến, A Phủ chẳng có quần áo mới như nhiều trai khác, A phủ chỉ có độc một chiếc vòng vía lằn trên cổ, A Phủ cũng cứ cùng trai làng đem sáo, khèn, đem con quay và quả pao, quả yến đi tìm người yêu ở các làng trong vùng”.

– A Phủ là đứa trẻ mồ côi, sống tự lập và có tính cách cứng cỏi. Chỉ vì đánh con quan (A Sử) mà A Phủ bị hành hạ rất dã man “A Phủ ra quỳ giữa nhà. Lập tức, bọn trai làng xô đến, trước nhất chắp tay lạy lia lịa tên thống lí Pá Tra rồi quay lại đánh A Phủ. A Phủ quỳ chịu đòn, chỉ im như cái tượng đá”. Cứ sau một đợt hút thuốc phiện lại một lần  A Phủ bị đánh “Mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt dập chảy máu”. Thế rồi A Phủ bị phạt vạ và vì A Phủ không có tiền nộp mà A Phủ đã phải trả nợ bằng cả một cuộc đời, không phải một kiếp mà là nhiều kiếp “Bao giờ có tiền giả thì tao cho mày về, chưa có tiền giả thì tao bắt mày ở lại làm con trâu, con ngựa cho nhà tao. Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi”. Đau xót hơn đó là khi A Phủ phải “đứng lên cầm con dao, chân đau bước tập tễnh, cùng với mấy trai làng, ra chọc tiết lợn” để hầu chính những kẻ đã biến anh thành nô lệ. Như vậy cũng giống như Mị, A Phủ cũng trở thành nạn nhân của chế độ phong kiến miền núi tàn bạo.

– Nếu Mị bị đày đoạ cả về thể xác lẫn tinh thần thì A Phủ cũng chẳng kém gì, A Phủ cũng phải cuốc n­ương, đốt rừng, làm rẫy, chăn bò… con ng­ười ngang tàng ngày nào đã phải sống cuộc đời nô lệ. Chỉ vì mải bẫy dím để hổ bắt mất một con bò của nhà thống lí, A Phủ đã bị thống lí Pá Tra trói đứng vào cọc, nhìn cảnh A Phủ bị trói chờ chết: chết đau, chết đói, chết rét, Mị đã nghĩ “ngư­ời kia sao phải chết nh­ư thế… chúng nó thật độc ác”. Tô Hoài thông qua những suy nghĩ của Mị để lên án sự bạo ng­ược, tàn ác của thống lí Pá Tra. Cuộc đời đi ở của A Phủ trên thực tế là kiếp sống nô lệ thê thảm của những con ngư­ời nghèo khổ ở vùng cao Tây Bắc…

–  Ở A Phủ tiềm tàng một sức mạnh bản năng. A Sử là con quan vẫn bị A Phủ trừng trị. Khi phải chịu những trận đòn, A Phủ im lìm nh­ư tư­ợng đá nh­ư dồn nén, chất chứa những hờn căm. Khi bị trói, A Phủ tìm cách thoát thân nhưng không thoát đ­ược. Trong đôi mắt của A Phủ không chỉ là những giọt lệ tủi hờn, đau xót cho chính mình mà còn bập bùng hai ngọn lửa của sự căm hờn, nó phản chiếu sức mạnh từ bên trong. Khi đ­ược cởi trói, lúc đầu anh khuỵu xuống, sau đó lại quật sức đứng lên để chạy trốn khỏi cái địa ngục trần gian ấy.

Mặc dù không đư­ợc Tô Hoài dành cho nhiều trang viết nh­ưng nhân vật A Phủ cũng thể hiện sự thành công trong việc miêu tả nhân vật và bộc lộ tấm lòng nhân đạo của nhà văn.

Tóm lại, Vợ chồng A Phủ là bản cáo trạng đanh thép đối với những thế lực phong kiến, thực dân tàn bạo đã đày đoạ những người dân nghèo miền núi. Đồng thời khẳng định khát vọng về tự do và hạnh phúc, sức sống bền bỉ, mạnh mẽ của người dân lao động. Vì thế, Vợ chồng A Phủ đã đứng vững trước thời gian và được độc giả yêu thích.

  1. Giá trị của tác phẩm

Về giá trị nhân đạo của tác phẩm:

– Tô Hoài đã thể hiện sự đồng cảm đối với những con người bị áp bức, chà đạp. Ông đã đứng về phía họ để tố cáo tội ác của giai cấp thống trị.

– Tô Hoài thể hiện niềm tin vào bản chất tốt đẹp, lòng vị tha, niềm khát khao hạnh phúc, sức mạnh phản kháng của nhân vật, những nét đẹp không thể bị vùi dập.

– Lòng nhân đạo mới của Tô Hoài là ở chỗ ông đã chỉ ra đ­ược con đư­ờng giải thoát cho những nhân vật của mình.

ĐỀ THAM KHẢO

* ĐỀ 1: Qua hình tượng nhân vật Mị và A Phủ, phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài.

* ĐỀ 2. Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ thể hiện trong cảnh ngộ từ khi cô bị bắt làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra đến khi trốn khỏi Hồng Ngài.

* ĐỀ 3: Phân tích hình tượng nhân vật A Phủ trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài.

* ĐỀ 4. Phân tích diễn biến tâm trạng của Mị trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài.

                                  ———————————————

PHẦN I- HƯỚNG DẪN CHUẨN BỊ BÀI MỚI

VỢ NHẶT ( KIM LÂN)

  1. Dựa vào mạch truyện, có thể chia tác phẩm thành mấy đoạn? Nêu ý chính của mỗi đoạn và cho biết mạch truyện được dẫn dắt như thế nào?
  2. Vì sao người dân xóm ngụ cư lại ngạc nhiên khi thấy anh Tràng đi cùng với một người đàn bà lạ về nhà? Sự ngạc nhiên của dân làng, của bà cụ Tứ, và của chính Tràng nữa cho thấy tác giả đã sáng tạo được một tình huống truyện độc đáo như thế nào? Tình huống truyện đó có tác dụng gì đối với nội dung, ý nghĩa của tác phẩm?
  3. Dựa vào nội dung truyện, giải thích nhan đề Vợ nhặt. Qua hiện tượng “ nhặt được vợ” của Tràng, anh (chị) hiểu gì về tình cảnh và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945?
  4. Kim Lân đã có phát hiện tinh tế và sâu sắc như thế nào khi thể hiện niềm khao khát tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng ( lúc quyết định lấy vợ, khi dẫn vợ về qua xóm ngụ cư và nhất là trong buổi sáng đầu tiên khi có vợ) ?
  5. Phân tích tâm trạng buồn vui xen lẫn của bà cụ Tứ. Qua đó anh ( chị) hiểu gì về tấm lòng của người mẹ nông dân này?
  6. Tìm hiểu nghệ thuật viết truyện ngắn của Kim Lân: cách kể chuyện hấp dẫn, cách dựng cảnh gây ấn tượng với nhiều chi tiết đặc sắc, đối thoại sinh động, miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, sử dụng ngôn ngữ nông thôn nhuần nhị, tự nhiên.

                                   —————————————————

RỪNG XÀ NU ( Nguyễn Trung Thành)

  1. Anh ( chị ) cảm nhận được ý nghĩa gì của truyện ngắn qua:
  2. Nhan đề tác phẩm.
  3. Đoạn văn miêu tả cánh rừng xà nu dưới tầm đại bác.
  4. Hình ảnh những ngọn đồi, cách rừng xà nu trải ra hút tầm mắt, chạy tít tắp đến tận đường chân trời luôn trở đi trở lại trong tác phẩm.
  5. Tác giả vẫn coi “Rừng xà nu là truyện của một đời, và được kể trong một đêm”. Hãy cho biết:
  6. Người anh hùng mà cụ Mết kể trong cái đêm dài ấy có những phẩm chất đáng quý nào? So với nhân vật A Phủ ( trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài), hình tượng T nú có gì mới mẻ hơn?
  7. Vì sao trong câu chuyện về cuộc đời bi tráng về cuộc đời T nú, cụ Mết nhắc đi nhắc lại rằng T nú đã không cứu sống được vợ con, để rồi khắc ghi trong tâm trí của người nghe câu nói: “ Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo” ?
  8. Câu chuyện của T nú cũng như của dân làng Xô man nói lên chân lí lớn nào của dân tộc ta trong thời đại bấy giờ? Vì sao cụ Mết muốn chân lí đó phải được nhớ, được ghi để truyền cho con cháu?
  9. Các hình tượng cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng có vai trò gì trong việc khắc họa nhân vật chính và làm nổi bật tư tưởng cơ bản của tác phẩm ?
  10. Theo anh ( chị), hình ảnh cánh rừng xà nu và hình tượng nhân vật T nú gắn kết hữu cơ, khăng khít với nhau như thế nào?
  11. Nêu và phân tích những cảm nhận của anh ( chị ) về vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm?

                        ——————————————————–